Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

Giá vàng lên đỉnh trong 6 tuần


Đôla Mỹ xuống đáy 3 tháng khiến giá kim loại quý tăng 22 USD hôm qua, lên 1.215 USD một ounce.

Đến 7h50 sáng nay (giờ Hà Nội), giá giảm nhẹ xuống 1.214 USD. Quy đổi ra tiền Việt, giá này tương đương 31,85 triệu đồng một lượng (chưa thuế, phí, gia công). Thị trường trong nước hôm qua đóng cửa quanh 34,97-35,03 triệu đồng.
Doanh số bán lẻ Mỹ đã đứng yên trong tháng 4, khi các gia đình giảm chi vào ôtô và các đồ dùng đắt đỏ khác. Việc này cho thấy nền kinh tế đang chật vật bật lên sau quý đầu gần như không tăng trưởng.
Phiên hôm qua, có lúc giá giao ngay lên tới đỉnh 6 tuần tại 1.218 USD, sau khi vượt mốc trung bình trượt 100 và 200 ngày, kích hoạt các lệnh mua kỹ thuật. Giá các hợp đồng giao tháng 6 cũng tăng hơn 2% lên 1.218 USD một ounce.
Đây là phiên tăng thứ 2 của thị trường, nhờ đồng đôla yếu và biến động trên thị trường trái phiếu toàn cầu. “Việc đóng cửa trên ngưỡng cản kỹ thuật 1.215 USD có thể giúp kim loại quý thoát biên độ giao dịch hẹp hiện tại, từ 1.175 USD đến 1.225 USD đã được thiết lập suốt 10 tuần qua. Đồng đôla yếu là nguyên nhân của lần tăng này và dĩ nhiên, cả quan điểm Mỹ sẽ lùi tăng lãi suất sau các số liệu kinh tế yếu nữa”, Carlo Alberto de Casa – nhà phân tích tại ActivTrades nhận xét.
Đồng đôla hôm qua mất 1% so với rổ tiền tệ lớn trên thế giới, sau số liệu việc làm Mỹ vài ngày trước, đẩy lùi thời điểm dự báo tăng lãi suất. Quan chức Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tuần này cũng không cung cấp thông tin rõ ràng về thời gian này.
Lãi suất tại Mỹ được duy trì gần 0% từ sau khủng hoảng tài chính 2008. Việc này đã hỗ trợ giá vàng rất nhiều. “Câu hỏi đặt ra với kim loại quý hiện tại là đà tăng nhờ USD yếu có được duy trì không, hay lãi suất tăng sẽ lại đảo ngược tình hình này”, HSBC cho biết trong một bản nhận định.
Trên thị trường dầu thô, giá hôm qua ban đầu tăng, sau đó lại đi xuống do lo ngại nguồn cung khổng lồ trên thị trường. Chốt phiên, dầu Brent trên sàn ICE London còn 66,81 USD một thùng. Trong khi đó, dầu WTI còn 60,5 USD một thùng.

Kinh Đô tiến sâu hơn vô ngành thực phẩm thiết yếu

Công ty cổ phần Kinh Đô vừa ký hợp tác liên doanh với Công ty TNHH Saigon Ve Wong, nhằm đầu tư xây nhà máy sản xuất mì ăn liền, gia vị, cháo, nui, phở, nước chấm... tại Khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh. 

Việc liên doanh với Saigon Ve Wong xây nhà máy 30 triệu USD là bước đi tiếp theo của Kinh Đô để sớm hiện thực hóa mục tiêu nằm trong top 3 ngành thực phẩm thiết yếu.

Theo đó, Kinh Đô sở hữu 49% và Saigon Ve Wong chiếm 51% cổ phần. Ông Trần Lệ Nguyên, Phó chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Kinh Đô chia sẻ hoạt động kinh doanh hiện tại và định hướng sắp tới của doanh nghiệp.

Kinh Đô từng tuyên bố kinh doanh mì gói sẽ hòa vốn sau 6 tháng tung sản phẩm ra thị trường. Tình hình tiêu thụ hiện thế nào, thưa ông?
- Mì Đại Gia Đình ra mắt gần cuối năm ngoái. Sau hơn một tháng có mặt, lượng tiêu thụ vượt kỳ vọng. Dây chuyền sản xuất của Saigon Ve Wong (400.000 thùng một tháng) không kham nổi nên hai bên quyết định hợp tác xây nhà máy công suất lớn.
Nhà máy đang xây dựng, dự kiến hoàn thành vào cuối năm nay tại Khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh sẽ phục vụ cho thị trường miền Bắc. Ngoài ra, từ tháng 8, Saigon Vewong đầu tư thêm một dây chuyền sản xuất mới cho nhà máy ở TP HCM với công suất 500.000 thùng một tháng để cung ứng cho miền Nam. Kinh Đô và Saigon Ve Wong dự kiến xây thêm song song các nhà máy tại miền Trung, miền Nam, miền Tây ngay khi tìm được địa điểm thích hợp.
Các số liệu chi tiết về mảng kinh doanh mì ăn liền, bức tranh tổng thể quý I sẽ sớm công bố trong vài ngày tới, nhưng nhìn chung đều đi theo đúng lộ trình đã dự tính trước.
Hinh-1-Mr-Nguyen-4946-1431525389.jpg
Ông Trần Lệ Nguyên, Phó chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Kinh Đô.
Sắp tới, công ty sản xuất cả những sản phẩm cao cấp, thay vì nhắm vào phân khúc bình dân như hiện tại. Vì sao Kinh Đô điều chỉnh nhóm khách hàng mục tiêu?
- Việc tung ra sản phẩm cao cấp và mới (cháo, phở, nui, gia vị, nước chấm…) đều theo đúng kế hoạch đề ra.
Kinh Đô tham gia thị trường thực phẩm thiết yếu với mặt hàng đầu tiên là mì Đại Gia Đình phân khúc phổ thông. Sau thành công bước đầu, đây là giai đoạn cần phát triển và mở rộng danh mục.
Những mặt hàng thuộc phân khúc cao cấp của Kinh Đô sẽ cạnh tranh trực tiếp với đối thủ lớn. Lý do, khi nhà máy 30 triệu USD với công suất ban đầu 6 triệu thùng sản phẩm một năm đi vào hoạt động giúp hạ giá thành. Sản phẩm của Kinh Đô (phân khúc bình dân đến cao cấp) khi đó có giá hấp dẫn so với sản phẩm cùng phân khúc.
Việc phát triển thêm hàng cao cấp cũng phù hợp với xu hướng tiêu dùng và bối cảnh thị trường hiện tại. Công ty có nguồn tài chính dồi dào, độ nhạy về khẩu vị người Việt, hệ thống phân phối lớn, thương hiệu được nhiều người biết đến. Trong khi đó, Saigon Ve Wong có ưu thế về công nghệ, thâm niên trong ngành mì ăn liền. Những lợi thế này sẽ được phát huy triệt để khi liên doanh ra đời. Nhờ vậy, danh mục sản phẩm của công ty sẽ đáp ứng nhiều đối tượng khách hàng, có thể phục vụ người tiêu dùng suốt ngày (bữa ăn sáng, trưa, chiều, tối, ăn vặt). Do đó, doanh nghiệp sẽ tiến nhanh hơn vào top 3 ngành hàng, chiếm 10% thị phần, đạt doanh số 1.900-2.500 tỷ đồng trong vài năm nữa.
- Sản phẩm của liên doanh có thể cạnh tranh trực tiếp với chính mặt hàng mà hai bên hiện có. Ông giải thích sao về điều này?
- Chúng tôi không cạnh tranh trực tiếp hay lấy thị phần của nhau mà kỳ vọng chiếm thị phần của những đối thủ mạnh. Liên doanh ra đời để gia tăng lượng cung ứng, bởi hiện tại công suất của Saigon Vewong không đáp ứng đủ.
Sắp tới, Vewong Đài Bắc sẽ đưa sản phẩm thuộc nhóm thực phẩm ăn liền tiện dụng thâm nhập thị trường Việt qua kênh phân phối của Kinh Đô. Nếu tiêu thụ tốt, đạt quy mô doanh số, sản lượng, chúng tôi sẽ xem xét sản xuất tại Việt Nam, sau khi đã điều chỉnh phù hợp thị hiếu và khẩu vị người Việt.
Hinh-2-4868-1431525389.jpg
Kinh Đô bắt tay với Saigon Ve Wong lập liên doanh để tiến sâu hơn vào ngành thực phẩm thiết yếu.
Lĩnh vực mì ăn liền vốn cạnh tranh khốc liệt. Theo ông, đâu là cơ hội cho những công ty đến sau?
- Một khi xác định theo đuổi lĩnh vực thực phẩm thiết yếu, theo tôi, nên chọn ngành hàng có tiềm năng và dư địa thị trường lớn. Áp lực cạnh tranh cao nhưng hiệu quả mang lại sẽ xứng đáng nếu thành công.
Bản thân tôi xác định mình phải cạnh tranh trực diện, ngang ngửa với các ông lớn trong ngành bằng chính những lợi thế mình có. Đó là quy mô sản xuất, giá thành, chất lượng sản phẩm, kinh nghiệm xây dựng và quảng bá thương hiệu, hệ thống phân phối...
Tỷ lệ trả cổ tức năm 2015 của công ty cao nhất từ trước đến nay (200%). Vì sao doanh nghiệp không dành tiền cho các hoạt động đầu tư chủ lực mà trích hơn 4.000 tỷ đồng để chia cổ tức?
- Tỷ lệ chia cổ tức 2015 lên đến 200% đã được Hội đồng quản trị đã tính toán kỹ để không ảnh hưởng đến dòng tiền hiện tại và tương lai. Đây cũng là cách ghi nhận sự ủng hộ của những cổ đông luôn đồng hành với doanh nghiệp trong suốt thời gian qua.
Ông sẽ thuyết phục nhà đầu tư tin tưởng vào chiến lược kinh doanh ngành thực phẩm thiết yếu như thế nào tại đại hội cổ đông sắp tới?
- Công ty sẽ chú trọng mở rộng ngành hàng thiết yếu, phục vụ mọi nhu cầu thực phẩm của người tiêu dùng và chăm sóc bếp ăn gia đình Việt vốn còn nhiều tiềm năng phát triển. Đó là lý do Kinh Đô phát triển sản phẩm của nhà máy thuộc liên doanh theo 4 giai đoạn: giai đoạn một sản xuất mì ăn liền, gia vị; giai đoạn 2: cháo, nui, phở; giai đoạn 3: thực phẩm ăn liền tiện dụng; giai đoạn 4: nước chấm.
Đối với ngành thực phẩm thiết yếu, công ty đã có quá trình dài chuẩn bị nguồn lực, nền tảng, nhiều lần cân nhắc kỹ lưỡng và nhận được sự đồng thuận của cổ đông.
Chúng tôi cũng đẩy mạnh hoạt động mua bán - sáp nhập với mục tiêu tiếp tục tìm kiếm cơ hội đầu tư, hợp tác vào những công ty phù hợp với chiến lược đã đề ra.

Giá vàng SJC tăng dè dặt theo tình hình thế giới

Mở cửa ngày 14/5, Tập đoàn DOJI báo giá vàng miếng SJC 35,06-35,10 triệu đồng, tăng 70.000 đồng cả bán lẫn mua. Biên độ mua bán dao động 40.000 đồng.

Bất chấp giá thế giới vừa có phiên tăng 580.000 đồng, mỗi lượng vàng miếng trong nước sáng nay được doanh nghiệp bán ra chỉ đắt hơn vài chục nghìn đồng.

Cùng lúc, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận - PNJ niêm yết 35,08-35,12 triệu đồng. Nếu so với mức giá hôm thứ Hai đầu tuần, mỗi lượng vàng miếng hiện nay chỉ đắt hơn 60.000 đồng do những phiên trước đó giá gần như đứng yên.
Mức giảm của vàng miếng sáng nay vẫn khá khiêm tốn so với thị trường thế giới. Kim loại quý quốc tế khép lại phiên giao dịch hôm qua tăng khoảng 22 USD (khoảng 580.000 đồng) lên 1.215USD một ounce. Bước sang phiên châu Á sáng nay, giá giảm nhẹ và đang loay hoay quanh mức 1.214 USD. Quy sang tiền Việt, giá thế giới hiện tương đương 31,89 triệu đồng một lượng (chưa thuế, phí, gia công).
doji-a-6377-1425262486-490x294-4482-1431
Giá vàng SJC tăng nhỏ giọt sáng nay. Ảnh: AQ.
Do tốc độ tăng của giá thế giới nhanh và mạnh hơn nhiều so với trong nước, độ vênh giữa hai thị trường thu hẹp đáng kể. Sáng nay, khoảng cách này rút về 3,2 triệu đồng, đã giảm cả triệu đồng so với tuần trước.
Trong tuần qua, giá vàng ít sóng nên các nhà đầu tư lớn vẫn chưa mặn mà tham gia thị trường. Theo PNJ, hiện chủ yếu là khách lẻ giao dịch vàng miếng với xu thế bán ra áp đảo mua, tỷ lệ là 60:40.
Trên thị trường ngoại tệ, giá USD của các ngân hàng tiếp tục tăng. Theo đó, Vietcombank hiện niêm yết đôla Mỹ quanh 21.710-21.770 đồng, tăng 5 đồng so với cuối ngày hôm qua. Các ngân hàng khác có giá tương tự.

50.000 tấn hành tím tồn đọng đã được bán gần hết

Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh Sóc Trăng cho biết, nhờ sự chung tay của cộng đồng, một số lượng lớn hành tím tồn đọng của người dân Vĩnh Châu đã được tiêu thụ gần hết, hiện chỉ còn khoảng 10.000 tấn, cộng với khoảng 15.000 tấn hành giống nông dân giữ lại.

Được các ngành chức năng và cộng đồng "giải cứu" gần hết số hành tồn đọng, song nông dân ở thị xã Vĩnh Châu (Sóc Trăng) vẫn không mấy vui vì thua lỗ nặng.

“Cuối tháng 3/2015, giá hành chỉ 2.000 đồng một kg mà không có người mua. Nhưng khi phát động chương trình 'giải cứu' hành tím, giá đã tăng trở lại, dao động từ 10.000 đến 12.000 đồng một kg. Tuy nhiên với giá này, nông dân vẫn chưa có lời”, một cán bộ ngành nông nghiệp Vĩnh Châu cho biết.
Theo nông dân địa phương, ở vụ hành sớm (sau Tết Nguyên đán), thương lái vào tận ruộng mua với giá 20.000–25.000 đồng một kg. Nhưng khi bước vào vụ thu hoạch chính, giá hành rớt mạnh, chưa tới 5.000 đồng một kg, thậm chí loại củ nhỏ chỉ còn 2.000-4.000 đồng, khiến người trồng lỗ nặng.
Sở Nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng cho biết, thời gian tới sẽ chỉ đạo ngành chức năng lên kế hoạch tổ chức lại sản xuất hành tím ở địa phương này phù hợp hơn, nhằm tránh tình trạng được mùa mất giá như đã qua. Vụ hành đông xuân năm nay, Vĩnh Châu có hơn 6.500ha trồng hành tím, năng suất khoảng 17 tấn mỗi ha

'Ngân sách vay dự trữ ngoại hối không phải là giải pháp căn cơ'

TS. Nguyễn Đức Độ - Viện Kinh tế Tài chính, Học viện Tài chính cho rằng việc lấy dự trữ ngoại hối cho ngân sách vay là giải pháp "chữa cháy" và cần thận trọng trong dài hạn.


- Chính phủ vừa đề cập tới khả năng ngân sách có thể phải vay từ dự trữ ngoại hối để tăng nguồn đầu tư, phát triển. Ông đánh giá như thế nào về ý tưởng này? 
- Tôi cho rằng cơ quan điều hành chỉ coi đây là giải pháp mang tính dự phòng. Việc sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối không nên và không thể là kế sách căn cơ, lâu dài, song cũng cần tính đến, bởi nếu chi tiêu của Chính phủ sụt giảm, tốc độ phục hồi kinh tế sẽ chậm lại.
Khi dùng biện pháp này, nhiều người đề cập nguy cơ tiền đồng (VND) mất giá. Do đó, cần đặt ra các giới hạn về mức lạm phát mục tiêu, mức phá giá VND cho mỗi năm hay mỗi thời kỳ…, tức là kiểm soát đầu ra chứ không phải đầu vào của chính sách.
Khi các giới hạn này được thể chế hoá, ngân sách sẽ không thể vay dự trữ ngoại hối một cách tuỳ ý và Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ không thể lúc nào cũng phát hành tiền để tài trợ cho chi tiêu, dù thông qua quỹ dự trữ ngoại hối hay thị trường tài chính. Khi đó, các quyết định sẽ phải dựa trên cân nhắc về lợi ích và chi phí đối với nền kinh tế.
- Cụ thể, việc cho vay với các khoản chi đầu tư phát triển mang tính dài hạn như vậy sẽ ảnh hưởng như thế nào đến dự trữ ngoại hối và giá trị tiền đồng, thưa ông?
- Đặt giả định ngân sách vay một tỷ USD từ dự trữ ngoại hối sẽ có hai trường hợp xảy ra. Trường hợp thứ nhất, sau khi vay, Bộ Tài chính không bán lại ngoại tệ cho Ngân hàng Nhà nước và sử dụng cho các khoản cần đến đôla, quy mô quỹ dự trữ sẽ bị sụt giảm về mặt tuyệt đối. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ nước ngoài của quốc gia.
Dự trữ ngoại tệ giảm cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường ngoại hối, nhưng lúc này, thị trường lại vừa có thêm một tỷ USD nên áp lực phải can thiệp sẽ bớt đi. Chỉ khi lượng ngoại tệ chảy ra bên ngoài nền kinh tế, lúc đó mới xuất hiện áp lực giảm giá VND.
usd2-aq500-7669-1431485670.jpg
Theo chuyên gia Nguyễn Đức Độ, dù vay từ quỹ dự trữ ngoại hối thì bản chất câu chuyện vẫn là ngân hàng trung ương tài trợ cho ngân sách. Ảnh: Anh Quân.
Trường hợp thứ hai, sau khi vay một tỷ USD, Bộ Tài chính bán lại số ngoại tệ này cho chính Ngân hàng Nhà nước. Khi trả nợ, ngân sách lại mua một tỷ USD từ Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, quy mô của quỹ dự trữ ngoại hối sẽ vẫn như cũ, nếu bỏ qua các khoản trả lãi suất và chênh lệch tỷ giá. Lúc đó, việc vay nợ qua quỹ dự trữ ngoại hối chỉ là một “nghiệp vụ”.
Tuy nhiên, khi Ngân hàng Nhà nước mua lại một tỷ USD đã cho Bộ Tài chính vay, quy mô của quỹ dự trữ ngoại hối sẽ bị giảm về mặt tương đối, bởi lượng VND trong nền kinh tế đã tăng lên.
- Như ông nói, đây chỉ là biện pháp mang tính tạm thời để chữa cháy cho ngân sách. Vậy hướng giải pháp căn cơ là gì?
- Sở dĩ Chính phủ phải nghĩ đến phương án “lạ” này là bởi thời gian qua khó huy động trái phiếu Chính phủ vì một số ngân hàng gặp trở ngại về “room” đầu tư trái phiếu theo Thông tư 36 mới hiệu lực. Bên cạnh đó, tốc độ giảm của lãi suất đã bắt đầu chậm lại, nên xu hướng đầu tư ngắn hạn để kiếm lợi nhuận khi giá trái phiếu tăng, lãi suất giảm không còn hấp dẫn như trước. Với các nhà đầu tư trung và dài hạn, họ cũng giảm hứng thú khi lãi suất huy động kỳ hạn 5 năm chỉ ở mức 5,5%.
Theo tôi cần tháo gỡ những trở ngại để các kênh huy động vốn truyền thống, qua việc Ngân hàng Nhà nước có thể tăng mua trái phiếu từ các ngân hàng (tăng cung tiền và hạ lãi suất), qua đó giải phóng “room” để các tổ chức tín dụng này tiếp tục mua trái phiếu phát hành mới. Giải pháp này có thể giải quyết được cả 2 vấn đề liên quan đến những hạn chế về định lượng cũng như lãi suất.
- Nếu nâng lãi suất huy động trái phiếu, hệ quả sẽ như thế nào ?
- Việc này có thể tăng thêm rủi ro về trả nợ trong tương lai. Nguồn thu ngân sách phụ thuộc vào mức lạm phát trong nền kinh tế. Nếu lạm phát tiếp tục thấp như hiện nay, vay trung dài hạn với lãi suất 6-7% sẽ tạo nên gánh nặng trả nợ lớn trong tương lai và Chính phủ sẽ lại phải vay để đảo nợ.
Hơn nữa, phương án tăng lãi suất cũng sẽ không giúp cải thiện tình hình một cách đáng kể, nếu nguyên nhân chính dẫn đến việc khó huy động vốn là những hạn chế về mặt định lượng được quy định tại Thông tư 36.
- Vậy còn giải pháp Ngân hàng Nhà nước nên nới lỏng tiền tệ, ông nghĩ sao?
- Theo tôi, dư địa để Ngân hàng Nhà nước tăng mua trái phiếu Chính phủ vẫn còn. Vài năm gần đây, khi các ngân hàng gom nhiều để kiếm lời, Ngân hàng Nhà nước đã tập trung bơm tiền ra nền kinh tế thông qua việc mua USD.
Đến nay, khi áp lực lên tỷ giá tăng và Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng hết “room” điều chỉnh, để ổn định thị trường ngoại hối, có thể Ngân hàng Nhà nước sẽ mua ít USD hơn và tập trung bơm tiền ra thông qua kênh OMO, tức là mua trái phiếu, đồng thời thực hiện mục tiêu hạ lãi suất cho vay trung dài hạn thêm 1-1,5% theo chỉ đạo của Chính phủ.
Một giải pháp khác là cần đặt ra mức lạm phát mục tiêu thấp trong dài hạn, chẳng hạn trong khoảng 2-3% một năm thay vì từng năm một, từ đó kéo lãi suất danh nghĩa xuống. Lãi suất cho vay dài hạn sẽ phải phụ thuộc vào lạm phát trong dài hạn và Chính phủ cần đưa ra một cái neo để thị trường bám vào đó.

UNESCAP: Việt Nam tăng trưởng trên 6% ở trong 2 năm tới

Theo báo cáo được Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (UNESCAP) công bố chiều nay (14/5), tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2015 và 2016 được dự báo sẽ tăng lên mức 6,1-6,2% nhờ vào xuất khẩu và đầu tư, cũng như khả năng phục hồi sức mua của hộ gia đình và các ngành kinh tế. 

Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước vẫn là điểm quan tâm nhất của các chuyên gia ngoại đối với kinh tế Việt Nam trong trung hạn.

Con số này cao hơn mức tăng trưởng gần 6% trong năm ngoái nhưng hơi thấp hơn mục tiêu Chính phủ đề ra đầu năm (6,2%).

Giá cả ổn định sẽ tiếp tục tạo thuận lợi cho người tiêu dùng và doanh nghiệp. Lạm phát đã giảm từ mức hai con số năm 2011 xuống 4,1% trong năm 2014 và được trông đợi tiếp tục giảm xuống 2,5% năm 2015.
csht-6280-1431593253.jpg
Thách thức với các nền kinh tế đang phát triển tại Châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm Việt Nam là thiếu vốn phát triển cơ sở hạ tầng. Ảnh: FT
Bình luận về dự báo này, tiến sĩ Võ Trí Thành - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho hay bên cạnh dấu hiệu hồi phục của nền kinh tế, Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu và du lịch. Cụ thể, xuất khẩu nông sản thấp đang gây áp lực lên mục tiêu tăng trưởng 10% của tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm nay. Câu chuyện tỷ giá, tăng trưởng kinh tế của Nga, châu Âu khó khăn cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lượng khách du lịch quốc tế tới Việt Nam.
"Để đạt được  mục tiêu ổn định vĩ mô và tăng trưởng tốt vẫn còn phức tạp", ông Thành nói. Bên cạnh đó, việc giảm nợ xấu, nợ công cũng không dễ dàng bởi những cản trở đến từ biến động tỷ giá, tiến trình tái cơ cấu hệ thống thống ngân hàng.
Trong trung hạn, UNESCAP cho rằng diễn biến quan trọng nhất là quá trình tái cơ cấu các ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước, cũng như sự phát triển của khu vực tư nhân. Trong năm 2014, Ngân hàng Nhà nước đã hạ các mức lãi suất điều hành cũng như trần lãi suất huy động nhằm giúp hạ lãi suất cho vay. Tuy nhiên, hiệu quả của các biện pháp này còn hạn chế do tỷ trọng nợ xấu vẫn ở mức cao.
Cải cách doanh nghiệp Nhà nước cũng là một ưu tiên. Chính phủ đang có chương trình đẩy nhanh tốc độ thoái vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước, 74% doanh nghiệp trong số này đã được cổ phần hóa trong năm 2013 và 40 doanh nghiệp trong năm 2014.
Thiếu cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, năng lượng và nước đang cản trở sự tăng trưởng của nhiều quốc gia đang phát triển tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Đây là nguyên nhân hàng đầu khiến cho các quốc gia không thể tham gia đầy đủ vào các thị trường quốc tế. "Một ước tính cho thấy mỗi đôla Mỹ đầu tư vào cải thiện cơ sở hạ tầng có thể giúp gia tăng 0,05 - 0,25 USD trong GDP", báo cáo nêu.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về cơ sở hạ tầng, UNESCAP cho rằng các quốc gia trong khu vực không chỉ dựa vào nguồn thu truyền thống như thuế hay sự phát triển từ nước ngoài, mà cần khai thác thêm các nguồn tài chính khác. Nhiều tổ chức đã được thành lập trong khu vực để hỗ trợ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, như Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) do Trung Quốc thành lập và Ngân hàng Phát triển mới (NDB) của nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS), tuy nhiên, nguồn lực của những ngân hàng này vẫn dưới mức yêu cầu.
AIIB và NDB đã ủy quyền tổng vốn giá trị lần lượt là 50 và 100 tỷ USD, trong khi nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng hàng năm của khu vực vượt quá 800 tỷ USD, theo ước tính của UNESCAP.
Do đó, tổ chức này khuyến nghị các quốc gia trong khu vực cần bổ sung vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng từ những tổ chức cho vay đa phương mới, bằng cách sử dụng các phương pháp sáng tạo như tận dụng xếp hạng tín dụng của các tổ chức này để đảm bảo trái phiếu cơ sở hạ tầng trong nước. Khảo sát năm 2015 cũng khuyến nghị sự tham gia của kh vực tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng thông qua quan hệ đối tác công tư (PPP).

Ngành chăn nuôi heo gặp khó bởi vì chất cấm

Tại buổi họp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp chăn nuôi chiều 14/5 ở văn phòng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khu vực phía Nam, ông Phạm Đức Bình, Phó chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam tỏ ra khá lo lắng khi tình trạng chất kháng sinh và chất cấm chứa nhiều trong thịt gia súc của Việt Nam.  

Đây là phản ánh của Phó chủ tịch Hiệp hội chăn nuôi Việt Nam với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về tình hình chăn nuôi cũng như khó khăn của doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi.

"Chất cấm ngày càng gia tăng và được bán tràn lan. Để heo sinh trưởng phát triển nhanh, tạo nạc tốt nhiều công ty chăn nuôi lớn đã mua thức ăn và chất cấm về tự trộn cho gia súc ăn, chỉ có số ít các hộ nuôi lẻ mới mua cám từ công ty. Do vậy, tình trạng thịt heo chứa chất cấm ngày càng lớn", ông Bình nói.
thit-heo-6273-1431603323.jpg
Nhiều bà nội trợ mua phải heo chứa chất cấm nhưng không hề biết. Ảnh: Hồng Châu.
Chia sẻ bên lề hội nghị, ông Bình cũng cho biết, hiện nay nhiều bà nội trợ mua thịt heo có chứa chất cấm nhưng không hề biết vì đa phần người tiêu dùng thích thịt heo nhiều nạc. Mặt khác, quản lý của Việt Nam còn lỏng lẻo nên khó kiểm soát hết.
Bên cạnh đó, ông Bình còn cho rằng, việc sử dụng chất cấm này còn ảnh hưởng rất nhiều tới doanh nghiệp kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Bởi lẽ, sức mua sản phẩm trên thị trường giảm đi và nhiều hộ chăn nuôi thay vì mua hoàn toàn cám từ công ty thì họ tự mua thức ăn và tự trộn. 
Ngoài ra, hiện nay, lượng thịt ngoại đang tấn công mạnh thị trường Việt nên các doanh nghiệp chăn nuôi càng khó khăn. Một khi các doanh nghiệp chăn nuôi trong nước "ốm yếu" thì công ty thức ăn chăn nuôi cũng chịu ảnh hưởng.
Trước tình trạng này, ông Bình đề nghị Bộ nên kiểm soát chăn nuôi chặt hơn để sản phẩm ra thị trường được đảm bảo, đồng thời, cần xét kỹ hơn mặt hàng nhập khẩu.
Đáp lại kiến nghị cũng như thắc mắc của ông Bình, Bộ Trưởng Cao Đức Phát cũng đồng tình và cho rằng hiện nay phần lớn thịt heo trong nước cung cấp cho thị trường nội địa. Do vậy, Bộ chỉ đạo các cơ quan quản lý cần kiểm soát ráo riết việc sử dụng chất cấm, đồng thời, cần theo sát hơn hoạt động chăn nuôi của các công ty cũng như người dân.
Bên cạnh về vấn đề chất cấm trong chăn nuôi, tại hội nghị, các doanh nghiệp chăn nuôi cũng cho biết họ đang đuối sức khi cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoại.
Theo lãnh đạo Công ty cổ phần nông súc sản Đồng Nai, thị phần chăn nuôi của Việt Nam quá thấp, hầu hết nằm trong tay doanh nghiệp FDI. Với tiềm lực lớn, vốn mạnh, doanh nghiệp ngoại gần như chi phối thị trường trong nước khiến doanh nghiệp Việt phải phụ thuộc và chịu thiệt thòi. Do vậy, lãnh đạo công ty này đề nghị Bộ cần có quy định rõ ràng, nên đưa ra lộ trình cũng như mức phát triển cho doanh nghiệp ngoại. Chẳng hạn như ra quy định doanh nghiệp FDI chỉ được phát triển khoảng 70% thị phần, 30% còn lại của công ty Việt, hoặc ngược lại.
Thừa nhận sự yếu thế của doanh nghiệp Việt, tuy nhiên, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết, hiện nay chỉ khoảng 0,5% doanh nghiệp FDI đầu tư vào nông nghiệp. Đây là một con số cực kỳ nhỏ bé. Dẫu vậy, ông cũng cho biết, hiện nay thị phần trong nhóm thức ăn chăn nuôi, doanh nghiệp FDI đang chiếm số lượng lớn. Cho nên, thời gian tới Bộ đề nghị các doanh nghiệp đóng góp ý kiến để trình lên Chính Phủ đưa ra Nghị định cụ thể về việc phân bổ thị phần cũng như lĩnh vực khuyến khích đầu tư. Mặt khác, bộ sẽ không để xảy ra tình trạng độc quyền và sẽ xử lý nếu đơn vị nào vi phạm.